Thứ Ba, 15 tháng 11, 2011

LECTIO DIVINA QUA DÒNG THỜI GIAN

I. MẤY KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT
1/ Nguồn gốc
- Ngay từ thuở rất xa xưa trong lịch sử của mình, người Do Thái đã cầu nguyện bằng Lời, Nghe Lời (Nkm ch. 8).
- Trong thời Chúa Giêsu (và trước đó nữa) người Do Thái cử hành Phụng Vụ trong đó có phần đọc, nghe, suy gẫm Lời (Lc 4,16-30; Ga 7,11-52; Ga 10,22.42).
- Ngay từ thuở đầu của Giáo Hội, các Giáo Phụ,  các đan sĩ đã thực hành Lectio divina, và nó đã có một truyền thống suốt 12 thế kỷ đầu – Từ thế kỷ XIII nó bị lơ là… và thế kỷ XX bắt đầu được phục hồi (x. Hiến Chế Mạc Khải của Công Đồng Vaticanô II).
2/ Cơ bản về Lectio divina (Đọc Kinh
           Thánh trong tâm tình cầu nguyện)
- Trong truyền thống Do Thái thì cuốn TORAH (Sách Thánh Và Lề Luật) có chỗ đứng chính yếu, mà Lề Luật có liên hệ đến giao ước Sinai, là giao ước Phu – Thê. Lề luật là quà cưới của Chúa. Đọc Luật là đọc Lời Chúa, là đi vào mối liên hệ thân tình với Chúa. Đọc Lời Chúa đúng cách thì sẽ nghe được tiếng nói của Bạn Tình Chí Thánh; mà đọc đúng cách là đọc với tất cả mọi năng lực của con người: mắt xem, miệng đọc thành lời, tai nghe, trí hiểu, lòng ghi, tâm nghiền ngẫm (ghi lòng tạc dạ).
- Trong truyền thống Kitô, các kitô hữu tiên khởi tiếp nối truyền thống Do Thái. Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các Thánh Tông Đồ không phá đổ nhưng kiện toàn việc xem, đọc, nghe Lời Chúa và thi hành (xem Lc 1,26-28 về việc truyền tin) – Các Thánh tu rừng thời trước và sau Chúa Kitô như Gioan Tẩy Giả, Thánh Antôn v.v. không có kinh nguyện nào khác ngoài Lectio divina. Từ thánh Cyprianô đến các Giáo Phụ, tất cả đều lấy Lectio divina làm quan trọng thiết yếu gần như là bí tích theo mẫu thức Bí Tích Thánh Thể: ngôn ngữ là chất thể mang Lời Chúa (văn dĩ tải ĐẠO).
- Kinh Thánh được đọc với toàn bộ hữu thể một con người: mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe, trí gẫm, lòng cầu, tâm kết hiệp, khi thực hành “Lectio divina”.
II. MẤY CỘT MỐC TRONG LỊCH SỬ
CỦA LECTIO DIVINA
(theo Từ Điển Đời Sống Thiêng Liêng
IX tr. 470-510)

- Mọi Tín Đồ Do Thái giáo, mọi tín đồ Kitô giáo chứ không chỉ riêng các đan sĩ mới thực hành Lectio divina.
Lời ở kề gần con, trên môi miệng con và trong lòng con(Rm 10,8; Đnl 30,14).
- Lectio divina không phải là chú giải, suy tư thần học, dọn bài giảng v.v. mà chỉ là đọc Lời Chúa để thưởng thức nhâm nhi, để cầu nguyện với Lời, để thực hành Lời.
1/  Bắt nguồn từ Do Thái giáo
Hội Đường là nơi Dân Do Thái tập họp lại… để nghe Lời Chúa được công bố, được giảng giải, được yêu cầu thực thi; Lời được đọc đi đọc lại để Dân ghi nhớ, Dân mang theo trong lòng và đem ra thực hành trong cuộc sống. Nhờ đọc Lời theo cách thức đó mà Dân hiểu được, cảm được ý nghĩa và sự phong phú bí nhiệm của Lời rồi như trẻ thơ “bú no bầu sữa mẹ(Tv 133) mà sống. Cộng đoàn đan sĩ tại Qumrân là điển hình của Do Thái giáo lấy việc đọc Lời làm trọng tâm cho đến mức độ canh thức một phần ba mỗi đêm để Đọc, để Suy, để Cầu, để Kết hợp với Chúa.
2/ Các Kitô hữu cũng Đọc Lời
- Các Tông Đồ là những người thừa kế đầu tiên về việc Đọc Lời Chúa, trước hết là trong “Phụng Vụ” Hội Đường.
- Các Thánh Inhaxiô thành Antiokia, thánh Irênê thừa kế trực tiếp từ các Giáo Phụ Tông Đồ.
- Các kitô hữu tiên khởi đọc Phúc Âm, đọc các Thư của thánh Phaolô, rồi các vị khổ tu tiên khởi lưu truyền trong từng chi tiết, một phương cách Đọc Lời Chúa.
- Điển hình là Cyprianô: “Con hãy chăm chú cầu nguyện hoặc Đọc Kinh Thánh”; “Khi con cầu nguyện, con nói với Chúa, khi con đọc thì Chúa nói với con”.
- Origiênê thì trình bày rõ nét hơn về Lectio divina, chắc là vì ông được học nơi các vị Thầy Do Thái, cách tìm hiểu kỹ càng đưa đến cách thực hành Lời. “Phải cố gắng chú tâm, mỗi ngày phải trở về với giếng Kinh Thánh, như Rébecca. Đọc mà cầu nguyện sẽ đưa đến phẩm hạnh được thần hoá. Suốt buổi sáng, trong bữa ăn trưa, khi mặt trời đã lặn, việc quan trọng hàng đầu, “phần tốt nhất” là “Đọc mà cầu nguyện rồi lại cầu nguyện mà đọc cứ thế tiếp diễn để cuối cùng ‘đem ra thực hành’ và thuộc lòng điều đã Đọc. Đọc như thế là ‘căng buồm cho Thánh Linh’. Người giúp ta hiểu ra ý nghĩa của Lời, và dẫn ta tới hoán cải không ngừng và biến đổi cuộc sống”.
- Đọc Lời, hát Thánh Vịnh, suy niệm, bài giảng đan xen với nhau trong Phụng Vụ; nhưng mỗi cá nhân cũng phải biết Đọc riêng ở nhà mình.
- Các Thánh Basiliô, Gioan Kim Khẩu, Giêrônimô, Grégôriô Cả chẳng những quy định cho các đan sĩ đọc Lời mà còn khuyên nhủ các Kitô hữu: “Con hãy học biết con tim Chúa trong những lời của Chúa”. “Đừng có tưởng rằng… đó là việc riêng của các đan sĩ, đang khi chính các anh em lại cần đọc hơn họ(Thánh Gioan Kim Khẩu).
3/ Khổ chế Đan Tu
- Một trong những việc khổ chế của Đan sĩ chính là Đọc Sách Thánh, “đọc để đối chiếu con tim mình với Lời Chúa”, Lời Chúa tự Thân là mời gọi vươn lên, là đòi hỏi, nếu đáp ứng với đòi hỏi thì đã là “khổ chế rồi”.
Thánh Antôn nghe đọc Lời Chúa và quyết định từ bỏ tất cả (Mt 19,21).
Thánh Athanasiô nhắc đến việc cần phải áp dụng Lời Chúa.
Thánh Pacômiô “chăm chú đọc từng đoạn”, rồi lại liên tục đọc…, cứ thế ban ngày và cả ban đêm (đan sĩ sống như vậy bên cạnh các việc khác).
- Trong Quy luật Thánh Biển Đức[1] có quy định đó đây nhiều giờ, nhiều lúc cần tranh thủ Đọc, hay học Lời Chúa… Quy định đó được rút ra từ truyền thống khổ chế và thần bí có từ thời “Đan sĩ trong Sa mạc”.
- Thánh Basiliô chịu ảnh hưởng của Origiênê, cũng hướng dẫn học thuyết khổ chế Đan Tu theo phương pháp: Đọc Kinh Thánh để khám phá ra trách nhiệm phải làm, phải sống như ý Chúa muốn, vì Đọc sẽ giúp Đan sĩ  “khắc ghi trong tâm hồn một ý tưởng rõ ràng về Chúa”.
- Êvarê (Evagre) tiếp nối Origiênê, dạy các Đan sĩ: “ước mong mặt trời mọc lên nhìn thấy Quyển Sách trong tay con…”, nó giúp con có kiến thức thần bí về Chúa và giúp cầu nguyện.
- Một loạt nhân vật như Jean Cassien, Maxime le Confescur, Thalassion, le Pseudo-Theodore d'Edesse nói lên đỉnh điểm khổ chế Đan Tu (thực hành: Practicos) khi trung thành chuyên cầu Đọc và đáp ứng Lời Chúa.
- “Miệng mở ra cho Lời, lòng suy niệm không chút lo ra” chính là khổ chế của Đan sĩ rồi đó! Poemen và Epiphane căn dặn đọc ở trong tu phòng để canh chừng tư tưởng, để không phạm tội “dốt Kinh Thánh là một trượt dốc, một hố sâu”; tại Syria có Gioan Kim Khẩu (+ 470) là Đan sĩ tiêu biểu cho việc đọc Kinh Thánh ngay sau Kinh Sáng, có nhiều vị còn ra công viết[2] lại Kinh Thánh.
- Tại Palestin, nhờ được tiếp xúc với các vị thông thái như Origiênê, Giêrônimô, Rufui, Melanie, các Đan sĩ có một kinh nghiệm lớn về Lectio divina và diễn tả bằng những từ chính xác: nó là cầu nguyện, là thao tác thiêng liêng để sống đẹp lòng Chúa, có khi đọc năm, sáu tờ mà lưu ý đến từng chữ.
- Tại xứ Gaule (Pháp) miền bắc có Martin de Tours, miền nam có Jean Cassien. Các ngài dành chỗ quan trọng cho việc Lectio divina bên cạnh việc chay tịnh, canh thức và thống hối. Các ngài chủ trương đọc trực tiếp Kinh Thánh, đọc trong suy niệm, cảm hưởng, ghi nhớ, lấp đầy trí nhớ bằng những tư tưởng về Chúa, đến nỗi biển đổi tâm hồn thành như Hòm Bia Giao Ước.
- Tóm lại: theo các Đan sĩ từ thời xưa, Lectio divina có hai đặc điểm: một là hướng nội, có chiều sâu, hai là dấn thân thực tế, cải tiến, đổi mới con người. Sắc thái khổ chế của Lectio divina hệ tại điều đó.
4/ Các nhà lập luật Đan tu
Trong Đan viện có nhiều loại bài đọc được quy định theo luật, bài đọc trong Phụng Vụ Thánh Lễ, Phụng Vụ Giờ Kinh, bài đọc ở các nơi chung: nhà hội, nhà cơm; nhưng cũng còn có bài đọc quy định cho cá nhân, gọi là Lectio divina (hay một tên gọi khác). Luật quy định giờ giấc, sách đọc và cách đọc cho Lectio divina.
a. Giờ
- Bình thường, vẫn vào khoảng đầu ngày, hoặc tuỳ theo mùa thời tiết, hay tuỳ công việc mà linh động mềm dẻo đọc ở giữa các giờ kinh, hay đọc ngay trong khi làm việc chung (đọc chung) cũng có thể đọc vào ban đêm.
- Thời gian đọc là bao lâu thì tuỳ theo quy định của luật; có luật, như luật Thầy ấn định khoảng 3 giờ. Trong đó Đan sĩ đọc, học thuộc lòng hay đọc cho nhau nghe, sau đó mỗi người suy ngắm trong lòng.
- Luật thánh Biển Đức quy định khoảng 2 hay 3 giờ liền từ sáng hay trước bữa ăn trưa.
Có thể lợi dụng giờ nghỉ trưa để đọc một mình (legere sibi) không gây tiếng động tiếng ồn làm phiền cho tha nhân.
- Chúa Nhật, tất cả mọi người (Đan sĩ) chuyên chăm đọc Sách Thánh bao nhiêu có thể.
- Tại Á Đông thuộc Syrie… đọc Sách Thánh vào trọn buổi sáng và thêm vào canh ba của đêm.
- Khoảng từ thế kỷ thứ IX (826) đến thế kỷ XI (1022) ở Byzance, Lectio divina được đặt vào khoảng giữa giờ 1 và giờ 8, trong đó các đan sĩ, tiêu biểu là Jean Chimanoue chuyên chăm “làm quen với Sách Thánh”.
b. Sách đọc
Các Đan sĩ có thư viện lớn chứa đựng Sách Thánh; nhưng Thánh Biển Đức còn mở rộng về phương diện sách đọc: các Giáo phụ, các Tiến sĩ, Jean Cassien, hạnh tích các Thánh Phụ, tu luật Thánh Basiliô. Như thế việc tạo cho Lectio divina một nền tảng văn hoá vững chắc là điều không thể bị lãng quên.
Origiênê và Têtulianô cũng đồng quan điểm đó. Chính từ Lectio divina mà các thư viện được lập nên rồi các văn phẩm Đan tu được ra đời. Dần dần Lectio trở nên đồng nghĩa với Studium (học) với cuộc sống trí thức. Tuy nhiên không bao giờ trào lưu trí thức đánh mất được (hay được phép đánh mất) sự tiếp cận với nguồn cội của nó (tri thức) là Lectio divina.
c. Đọc một cách nghiêm túc
- Đối với Thánh Biển Đức việc Lectio divina và việc đọc hay học có liên hệ xa gần với nó, đều mặc một tầm quan trọng đặc biệt. Tuy chưa hẳn là trực tiếp “thực hành” Lectio divina, nhưng việc đọc một cuốn sách được trao cho vào đầu mùa chay, đã là một việc làm nghiêm túc: có vị giám thị trông coi khi anh em đọc sách (NB như kiểu giám thị coi thi ở trường thi?)
Việc đọc sách đó không xa việc cầu nguyện... việc suy niệm theo truyền thống cũng gần gũi sâu xa với Lectio divina. Lectio divina với việc đọc các sách đạo đức khác đi kèm, với việc suy niệm, có tác động hữu hiệu trên Đan sĩ; nó giúp hoán cải nội tâm, biến đổi cuộc đời, thực tình tìm Chúa.
- Đối với thánh Grêgôriô Cả, cách thực hành nghiêm túc Lectio divina, có tầm quan trọng sâu xa vì thế trong cương vị Giáo Hoàng, ngài đưa nó vào thực hiện trong Hội Thánh dưới triều đại ngài và từ đó ảnh hưởng dài lâu cả thời Trung Cổ.
- Césaire d’Arles (cùng với thánh Grêgôriô) minh giải Lectio divina bằng thuật ngữ “Rumi-natio” và “Masticatio” ông quan sát động vật nhai lại (nhơi) gặm nhấm, nhâm nhi, nghiền cỏ. Ông sử dụng hình ảnh nhai lại đó để trình bày chuyển động trong nội tâm: nghĩ tới nghĩ lui, ghi nhớ trong tim (Ore Cordis); “nhơi cỏ, nhai trầu” Lời Chúa.
- Nhờ “nhơi”, nhờ “nhai” Lời như thế và không bao giờ rời xa bản văn Thánh mà thánh Columbanô cảm nếm được sự dịu ngọt của Lời (Delectatio Litterarum).
5/ Lectio divina thời tiền Trung Cổ
a. Các Đan sĩ Biển Đức
- Quy luật Thánh Biển Đức (+ 547) là khởi điểm cho các sách thói lệ, các bài viết của các Đan sĩ về Lectio divina.
- Thánh Sturne (+ 776) nhấn mạnh đến bầu khí thinh lặng cần mẫn để bảo vệ Lectio divina.
- Quy luật Forta (thế kỷ XI) trình bày lối sống của Đan viện Cluny, cho biết thư mục của thư viện chung bao gồm Sách Thánh, sách Giáo phụ và các sách khác…
- Tại Anh Quốc, các Đan sĩ ngồi suốt buổi sáng chăm chú thinh lặng đọc sách; cũng có ghi nhận các hình phạt dành cho các Đan sĩ chểnh mảng đọc sách…
- Tại Châu Âu, Đan sĩ Linh Mục J. Leclercq, một Học giả và Chuyên viên về phụng vụ tại Công đồng Vatican II đánh giá cao các văn phẩm của các Đan sĩ viết về Lectio divina (thời tiền Trung Cổ) có mấy Đan sĩ tiêu biểu:
- Năm 596. Léandre viết biên khảo… gởi cho em gái khuyên em đọc, hay nhờ người đọc lúc em lao tác, bài đọc dạy cầu nguyện.
- Năm 784, Ambroise Autpert thuyết minh về việc ông thực hành Lectio divina và chuyên cần cầu nguyện.
- Năm 804, Alcuin trong các thư, thích khuyên chuyên cần đọc Sách Thánh.
- Năm 824, Smaragde dùng ngôn từ của Cyprien để trình bày về đọc, suy, cầu trong Lectio divina.
- Thánh Beda (735) (một gương mặt đặc biệt) nói lên kết quả mà Lectio divina làm nảy sinh  trong tâm hồn mình. Ngài được thân tình tâm phúc với Thánh Kinh như Lectio divina.
- Năm 924, Odon de Cluny khẳng định rằng: nhờ được linh hoạt bởi Thần Vụ và Lectio divina, mà việc khổ chế dẫn Đan sĩ đến gặp gỡ Chúa Kitô.
- Tại Đan viện Saint-Riquier (TK XI), ngay từ khi mặt trời mọc, các Đan sĩ đã ngồi ở hàng hiên với cuốn sách, miệt mài đọc và cầu nguyện không ngừng nghỉ.
- Năm 1095 Guillaume Firmot, trong tác phẩm của mình, đã dùng hình ảnh thi vị và trữ tình mà nói rằng “Đọc Kinh Thánh cho phép cưới được sự Khôn Ngoan trong những hôn lễ của lúc rảnh rỗi chuyên cần”.
- Năm 1135, Rupert de Deutz dám dùng cụm từ “nhâm nhi Lời Chúa
- Năm 1158, Serlon de Savogny cho thấy trong Lectio divina linh hồn gắn bó với Chúa Kitô như xưa Gionathan gắn bó với David, và cho thấy Lectio divina là một toàn bộ thao tác: thân xác yên tĩnh, đọc Lời, suy niệm, cầu nguyện, chiêm niệm.
- Năm 1183, Pierre de Celle cũng đồng quan điểm như thế.
- Từ một số nhân vật nêu trên, người ta thấy rõ Lectio divina có một vị trí then chốt, quan trọng trong linh đạo Đan tu thời tiền Trung Cổ như thế nào.
b. Các Đan sĩ Xitô
Các Đan sĩ Xitô có công tìm lại sự quân bình cho ba thành tố trong thời khắc biểu Đan tu: Lectio divina, Thần Vụ và lao động.
- Thánh Bênađô de Clairvaux (+ 1153) sống trong môi trường Đan viện mà “ở ngay cửa phòng hội, các Đan sĩ ngồi đọc, mỗi người một cách riêng, không hỏi han (trò chuyện) người bên cạnh”.
Được huấn luyện Lectio divina theo truyền thống, Bênađô “chuyên cần hoà mình vào việc học và chiêm niệm vì ngài là người của Kinh Thánh
Tôi khoan khoái nhâm nhi những sự này, tôi tràn ngập niềm vui, tất cả trong tôi được bồi bổ, nên từ thân xác tôi nảy sinh lời chúc tụng…”, đưa tôi vào ca hát trong Phụng Vụ.
Để được như thế thì phải:
. Chuyên chăm giữ đúng giờ cố định, đọc sách đã ấn định
. Gắn bó hơn với một số đoạn nào đó.
. Ghi vào trí nhớ câu chữ nào đó trong sách mà ta đọc hằng ngày.
. Lấy tâm trí mà nhâm nhi mà tiêu hoá lời đó…
. Múc lấy cảm xúc, đưa vào cầu nguyện.
Linh đạo về Lectio divina chịu ảnh hưởng rất lớn của những hướng dẫn trên đây.
- Arnould de Bohéries có một đoạn văn hướng dẫn các tập sinh, được tìm thấy vào thế kỷ XIII: “Sau khi đọc là cầu nguyện và đọc không nhắm tới khoa học cho bằng nhắm tới thú vị… không nhất thiết phải đi vào nhà nguyện, hãy chiêm niệm và cầu nguyện ngay trong việc đọc”. (Thánh Giêrônimô thời trước cũng nghĩ như thế, nói như thế)
- Guerric d’Igny (+ 1157) quan niệm Lectio divina là một trong những thao tác đặc thù: giống như người đi dạo chơi trong vườn cảnh, Đan sĩ cũng đi dạo trong Sách Thánh khi đọc và suy niệm.
- Các Ẩn sĩ, các Cư sĩ nam nữ (tu tại gia) cũng đọc Lectio divina như là một thao tác thiêng liêng bên cạnh thao tác thế xác (chay tịnh, canh thức, lao động)
c. Các Kinh sĩ và các Đan sĩ Chartreux
- Trong linh đạo cho các Kinh sĩ, Lectio divina cũng chiếm một chỗ quan trọng. “linh đạo Kinh sĩ thế kỷ XII là đọc Lectio divina, là đọc Kinh Thánh, còn việc học thần học được coi như một việc làm chú giải
Linh đạo Kinh sĩ không khác gì với linh đạo Đan sĩ, cũng xác lập một số thời gian ấn định, một nội dung cho Lectio divina.
- Hugues de Saint-Victor (+ 1141) đã hệ thống hoá tiến trình 5 bước: Lectio, Meditatio, Oratio, Operatio, Contemplatio (Đọc, suy, cầu, hành, ngắm).
- Guigues II Le Chartreux (+ 1188) bỏ bớt Operatio, chỉ giữ lại 4 bước: đọc, suy, cầu, ngắm.
Trong khi mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe thì tâm hồn nhai, nghiền lời; đọc và suy nối kết chặt chẽ với nhau.
- Thế kỷ XII là thời kỳ cao điểm của Lectio divina, tuy nhiên cũng có những trắc trở trong một thời điểm nào đó.
. Nếu quá cố định, quá kỹ thuật thì liệu Lectio divina có bị mất đi tính chất tự phát hồn nhiên nguyên thuỷ không?
.Trong các thế hệ sau, phát sinh sự chồng chéo giữa Lectio divina  và “đọc sách thiêng liêng
- Năm 1520, Paul Giustiani cổ võ canh tân dòng Camaldule, trong đó nhấn mạnh: “Tất cả những ai biết đọc, mỗi ngày nên đọc một bài Sách Thánh…. Tuy nhiên, đọc mà không suy niệm điều mình đọc và đem ra thực hành thì cũng bằng không.
- Vào thế kỷ XVII, Lectio divina vẫn luôn sống động, tuy cũng có lúc, có nơi Lectio divina bị đem ra bàn cãi kịch liệt.
- Đến ngày nay, Lectio divina vẫn còn nổi bật trong cuộc sống Đan tu, thực hành Lectio divina để dần dần làm quen với những sự thuộc về Chúa và quen nhìn điều vô hình.
Ngoài các đan viện, Lectio divina đã trải qua những thế kỷ dài bị thăng trầm và mai một dần, đúng như nhận định của cha José Rodriguez Carballo, Tổng Phục Vụ Dòng Các Anh Em Hèn Mọn (Phan Sinh):
 “Quả đúng là phương pháp này đã gặp khủng hoảng vào thời Trung Cổ do một cách đọc nhắm nhiều đến quaestio (đặt câu hỏi) và disputatio (biện luận) hơn suy niệm và cầu nguyện”[3].
III. LECTIO DIVINA
TỪ CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II
Cha José Rodriguez Carballo cũng đã có thêm nhận định rất chính xác: “Nhưng vào ngày hôm nay, nhờ Vaticanô II, sau một cuộc lưu đày cưỡng ép của Lời Chúa và phương pháp Lectio divina, trong cộng đoàn ki-tô hữu và trong đời sống của nhiều ki-tô hữu, Lời đã được giải thoát và chúng ta đang chứng kiến một cuộc hiển linh mới của Lời Chúa trong cộng đoàn ki-tô hữu. Đàng khác, chính Công Đồng này đã đề nghị cho tất cả các tín hữu phương pháp Lectio divina: Thánh Công Đồng đặc biệt và nhiệt liệt khuyến khích mọi ki-tô hữu, nhất là các tu sĩ, học được sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giê-su Ki-tô (Pl 3, 8) nhờ năng đọc Sách Thánh[4].
- Năm 1967, để hưởng ứng cuộc canh tân sau Công Đồng Vatican II, các Đan phụ Biển Đức đề xuất “cần thiết có một chương trình huấn luyện xứng tầm, và những điều kiện cụ thể giúp cho Lectio divina được thực hành thường xuyên, đọc Kinh Thánh trong tư thái cầu nguyện”.
1. Hiến chế tín lý về mạc khải Lời Thiên
         Chúa
(DEI VERBUM)
Trong bài giới thiệu về Hiến Chế Mạc Khải này, cha Vũ Phan Long Ofm đã viết:
Vì “không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô” (thánh Giêrônimô[5]), Hiến chế ân cần khuyên nhủ mọi giới trong Hội Thánh, giáo sĩ, linh mục, phó tế, giáo lý viên, tu sĩ và mọi ki-tô hữu, “học được «sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô»” (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh (…), nhờ phụng vụ thánh đầy dẫy Lời Thiên Chúa, hoặc nhờ việc sốt sắng đọc Thánh Kinh hoặc nhờ những lớp học hỏi thích hợp và những phương tiện khác ngày nay đang phổ biến khắp nơi cách đáng mừng, với sự ưng thuận và chăm lo của các vị chủ chăn trong Giáo Hội. Nhưng họ nên nhớ rằng kinh nguyện phải có kèm theo việc đọc Thánh Kinh, để trở thành cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì «chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh (thánh Ambrôsiô)»” (số 25).
Sau cùng, Hiến chế nhắc nhở nhiệm vụ của các giám mục là đào tạo cho các tín hữu biết sử dụng Sách Thánh “có kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ, để con cái Giáo Hội có thể gặp gỡ Thánh Kinh cách bảo đảm và ích lợi, cũng như được thấm nhuần tinh thần Thánh Kinh” (số 25).
“Hơn nữa, cũng nên xuất bản Thánh Kinh với các ghi chú thích hợp, tiện dụng cho cả những người ngoài Kitô giáo và thích nghi với hoàn cảnh của họ” (số 25).
.... Công Đồng nêu lên một phương diện thuộc bản chất Hội Thánh: một cộng đoàn lắng nghe và công bố Lời Chúa. Hội Thánh không sống tự mình nhưng sống nhờ Tin Mừng, và từ Tin Mừng, Hội Thánh rút ra chiều hướng cho cuộc hành trình của mình. đây là một nét tiêu biểu mà mọi ki-tô hữu phải chấp nhận và áp dụng cho mình: chỉ những ai chọn lấy vị trí lắng nghe Lời Chúa thì mới có thể trở thành những người loan báo Lời Chúa”.
2. Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới
          về Lời Chúa (2008)
Ngày 24-10-2008, các nghị phụ Thượng Hội Ðồng Giám Mục thế giới kỳ thứ 12 đã thông qua sứ điệp gửi Cộng đồng dân Chúa, mời gọi các tín hữu đến gần Bàn Tiệc Lời Chúa để được nuôi dưỡng bằng những Lời từ miệng Chúa phát ra (Mt 4,4).
Qua sứ điệp này, các nghị phụ nhắn nhủ rằng: "Anh chị em thân mến, hãy giữ Kinh Thánh tại gia, hãy đọc, đào sâu và hiểu trọn vẹn các trang Kinh Thánh, hãy biến các trang này thành kinh nguyện và chứng tá cuộc sống, hãy lắng nghe Kinh Thánh với lòng tin yêu trong phụng vụ. Hãy kiến tạo sự thinh lẳng để lắng nghe Lời Chúa hữu hiệu và hãy giữ thinh lặng sau khi lắng nghe, để Lời Chúa tiếp tục ở lại, sống và nói với anh chị em. Hãy làm cho Lời Chúa vang dội vào đầu mỗi ngày của anh chị em, để Thiên Chúa có lời đầu tiên và hãy để cho Lời Chúa vang âm trong anh chị em vào buổi tối để Lời Chúa là lời nói cuối cùng."
3. Tông Huấn Verbum Domini
           của ĐGH Bênêđitô XVI (2010)
Tông huấn Verbum Domini của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI là một công trình đúc kết thành quả làm việc của Khoá họp Khoáng đại Thượng Hội đồng Giám mục (THĐGM) Thế giới lần thứ XII với chủ đề: Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Hội Thánh, diễn ra từ ngày 5 đến 26-10-2008. Một trong những mục tiêu của Thượng Hội nghị Giám mục này là duyệt lại việc thực thi những chỉ thị của Công đồng Vatican II về Lời Chúa, đặc biệt là Hiến chế Dei Verbum, đồng thời đối phó với những thách thức mới đặt ra trong thời đại hôm nay liên quan đến lĩnh vực Lời Chúa. Sự tiếp nối công trình của THĐGM là một trong những mục tiêu chính của Verbum Domini (s. 3). Tông huấn được ban hành ngày 30-9-2010, tại Đền thờ Thánh Phêrô vào ngày lễ kính Thánh Giêrônimô, dịp kỉ niệm năm thứ sáu Triều đại Đức Bênêđictô XVI.
Đức Bênêđictô XVI hối thúc mọi tín hữu đọc Kinh Thánh và như thế có thể gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô: “Tôi bày tỏ niềm mong ước chân thành về một sự nở rộ ‘một mùa xuân mới nơi mọi thành phần Dân Chúa đối với việc mến yêu Sách Thánh hơn, để việc đọc Thánh Kinh thấm đẫm lời cầu nguyện và đức tin, theo thời gian, sẽ khắc sâu mối tương quan cá vị của họ với Chúa Giêsu’” (s. 72). Khi tín hữu không biết Thánh Kinh, họ thường bị nhử bắt bởi các giáo phái khác nhau, chúng đưa ra một lối đọc Sách Thánh lệch lạc (s. 73).
Trong các gia đình Công giáo, việc cầu nguyện chung và đọc Thánh Kinh rất được khuyến khích. Mỗi gia đình cần phải có một cuốn Thánh Kinh riêng, được “gìn giữ ở một nơi xứng đáng, dùng để đọc và cầu nguyện” (s. 85). Trong mọi trường hợp việc đọc Sách Thánh phải đi kèm với lời cầu nguyện. Ở đây, Đức Bênêđictô XVI trích dẫn lời Thánh Augustinô: “Khi bạn đọc Thánh Kinh, Chúa nói với bạn; còn khi cầu nguyện, bạn nói với Chúa” (s. 86).
Việc thực hành Lectio Divina rất được khuyến khích (s. 87) cũng như việc lần chuỗi Mân Côi. Khi đọc Kinh Mân Côi, mỗi mầu nhiệm nên đọc một đoạn Thánh Kinh ngắn liên quan đến mầu nhiệm ấy (s. 88).
Lời kêu gọi tha thiết của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI vào cuối văn kiện:
“Tôi muốn nhắc nhở mọi Kitô hữu rằng mối tương giao cá nhân cũng như cộng đoàn của chúng ta với Chúa tùy thuộc vào sự hiểu biết ngày càng gia tăng của chúng ta đối với Lời Chúa. Sau cùng, tôi hướng về hết thảy những người nam nữ, gồm cả những người đã lìa bỏ Giáo hội, những người đã xa rời đức tin hoặc những người chưa từng nghe công bố ơn cứu chuộc. Chúa nói với mọi người: ‘Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta’ (Kh 3,20)” (s. 124).
4. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
         và Lectio divina (2011)
Đại Hội Dân Chúa được tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ thuộc Tổng giáo phận Thành Phố Hồ Chí Minh từ ngày 21 đến 26.11.2010.Sau Đại Hội này, Ngày 01.05.2011 HĐGMVN đã gửi cho Dân Chúa một lá thư chung. Số 11 của lá thư này đề cập tới việc thực hành Lectio divina, tiếp theo lời mời gọi của ĐGH Bênêđitô trong Tông Huấn Verbum Domini[6].
11. Được Lời Chúa qui tụ, Dân Thiên Chúa chỉ có thể được xây dựng vững vàng trên nền tảng Lời Chúa[7]. Được lắng nghe với lòng chân thành và kiên nhẫn, Lời Chúa sẽ trở thành nguồn sống dưỡng nuôi, ánh sáng soi đường và sức mạnh củng cố đức tin của các tín hữu trong mọi hoàn cảnh. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam cho thấy các hình thức sống Lời Chúa qua những việc đạo đức truyền thống như Đàng Thánh Giá, Kinh Truyền Tin, Kinh Mân Côi, Kinh cầu nguyện sớm tối, v.v… đã nuôi dưỡng và củng cố đời sống đức tin của bao thế hệ. Những việc đạo đức ấy thật đáng trân trọng và cần bảo tồn cũng như đổi mới và phát huy. Đồng thời, các tín hữu Việt Nam cần làm quen với Lời Chúa hơn nữa. Do đó Giáo Hội tại Việt Nam phải “phát động chương trình mỗi gia đình một cuốn Kinh Thánh được đặt nơi xứng hợp, cổ võ đọc và cầu nguyện với Lời Chúa”[8], khuyến khích học thuộc lòng những đoạn Kinh Thánh cốt yếu[9]. Mọi thành phần Dân Chúa, giáo dân, chủng sinh, tu sĩ và các mục tử, cần tập thói quen đọc và suy niệm Lời Chúa hằng ngày[10], đặc biệt theo phương thức Lectio divina[11].
Cùng với việc học hỏi Lời Chúa, việc dạy và học giáo lý là đòi hỏi tối cần thiết trong đời sống Giáo Hội, nhất là trong thời đại ngày nay đầy rẫy những luồng tư tưởng nghịch với Tin Mừng[12]. Đại Hội Dân Chúa mong mỏi sớm có được những nguyên tắc, đường hướng và chương trình chung, cũng như một thủ bản chung về giáo lý, vừa trung thành với Tin Mừng vừa gần gũi với văn hóa Việt Nam[13]. Đồng thời, Lời Chúa phải là nền tảng cho mọi chương trình thường huấn cũng như đào tạo chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên[14].
KẾT LUẬN

Mỗi người chúng ta hôm nay, đặc biệt những con người theo Chúa, tiếp tục viềt những trang sử sống động của Lectio divina. Với làn gió mới của Thánh Linh, chúng ta tin tưởng Lectio divina sẽ có lại một vị trí đúng đắn trong đời sống của Dân Chúa.
Thực hành Lectio divina không còn là chuyện muốn hay không muốn, nhưng chúng ta phải dành cho Lectio divina một vị trí ưu tiên liền sau Thánh Lễ và Kinh Nguyện Phụng Vụ. Và nếu coi Lectio divina là một việc đạo đức trong số các việc đạo đức khác như Lần Chuỗi Mân Côi, Ngắm Đàng Thánh Giá, Làm Giờ Thánh kính Lòng Chúa Thương Xót v.v... thì nên dành cho Lectio divina vị trí số một để thu xếp giờ nhất định mỗi ngày, nếu không thể là 60 phút thì ít nhất cũng phải 30 phút. Mong thay!
Fr. Phêrô Tuần Osb
 tóm lược



[1] Khi thánh Biển-đức nói: “Ideo certis temporibus occu-pari debent fratres in labore manuum, certis iterum horis in lectione divina” (RB 48)… “thế nên anh em phải có giờ làm việc chân tay, có giờ đọc sách” –(HD Thaùnh Gia)… "dành một số giờ để làm việc tay chân và một số giờ khác cho Lectio divina” (Bản dịch Biển Đức VN). "In lectione divina" ở đây không phải chỉ là việc đọc sách; vào thời thánh Biển-đức và trong nhiều thế kỷ cụm từ Lectio divina luôn mang ý nghĩa là chính Lời Chúa, Kinh Thánh, chứ không phải chỉ là việc làm của con người liên quan tới Lời. Nếu muốn sát nghĩa bản văn và tôn trọng ý nghĩa kiểu nói Lectio divina vào thời thánh Biển-đức, chúng ta có thể dịch: “Vào một số giờ nào đó anh em phải lo việc lao động tay chân, và một số giờ khác anh em phải chăm chỉ chuyên cần về Lời Chúa”. “Chăm chỉ chuyên cần về Lời Chúa có thể là học hỏi các thánh vịnh (điều mà thánh Biển-đức yêu cầu làm mỗi buổi sáng sau giờ Kinh Đêm), hoặc đọc một sách Kinh Thánh nào đó (đọc theo ý nghĩa Lectio divina ta hiểu bây giờ), học thuộc lòng các thánh vịnh, hoặc đơn thuần chỉ là lặp đi lặp lại nhỏ tiếng (meditari) những trích đoạn Kinh Thánh đã thuộc lòng, và đọc một số sách khác được ghi trong Tu Luật (Ghi chú của Fr. Bảo Tịnh O.Cist).
[2] NB: Viết nắn nót trên tấm da thú, chứ không dễ dàng như thời hiện đại, nếu hát là cầu nguyện gấp hai lần thì viết như người xưa cũng là cầu nguyện gấp mấy lần?)
[3] Trích “Những hành khất đi ăn xin ý nghĩa, được hướng dẫn bởi lời”, Thư của Anh Tổng Phục Vụ Dòng AEHM, 2008, José Rodriguez Carballo, OFM,)
[4]  Như trên.
[5]         MK 25
[6]         x. Thư chung của HĐGMVN 01.05.2011.
[7]    x. PC 6; DV 25; HĐGMVN, Thư chung 2005 “Sống Lời Chúa”.
[8]    Đề nghị 3; cũng x. Đức Bênêđictô XVI, Verbum Domini 85.
[9]    x. Đức Bênêđictô XVI, Verbum Domini 74.
[10]   x. Đề nghị 3; Đức Bênêđictô XVI, Verbum Domini 77-85.
[11]   x. Lectio divina là một phương pháp cầu nguyện dựa trên Lời Chúa, gồm bốn bước: đọc, suy niệm, chiêm ngắm, thực hành; Đức Bênêđictô XVI, Verbum Domini 86-87.
[12]   x. HĐGMVN, Thư chung 2007 “Giáo Dục Hôm Nay, Xã Hội và Giáo Hội Ngày Mai”, số 26-31; Tài liệu làm việc, số 26; Đề cương, số 35-38.
[13]   x. Đề nghị 2.
[14]   x. Đề nghị 21, 22.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BACK TO TOP